Những chỉ dẫn của Chủ tịch Hồ Chí Minh về tự học, thực học, học tập suốt đời đối với người cán bộ cách mạng
Học tập là nhiệm vụ quan trọng của mỗi người cán bộ cách mạng.
Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ rõ, muốn xây dựng được chủ nghĩa xã hội, phải có con người xã hội chủ nghĩa.
Nghĩa là, xã hội mới cần phải có những cán bộ với vai trò là người tổ
chức, hướng dẫn và trực tiếp thực thi các khâu trong tiến trình xây dựng
chủ nghĩa xã hội, trong đó có cả việc giáo dục, đào tạo, bồi dưỡng
những con người xã hội chủ nghĩa.
Vì thế, với người cán bộ cách mạng, yêu cầu trước hết là học để “làm người”, “làm việc” và sau đó mới để “làm cán bộ”(1).
Chủ tịch Hồ Chí Minh đưa ra lời khuyên này cho mỗi cán bộ cách mạng vào
tháng 9-1949, nhân dịp Người đến dự lễ khai giảng khóa đào tạo của
Trường Nguyễn Ái Quốc Trung ương. Đây chính là yêu cầu đối với người cán
bộ cách mạng. Nó chỉ rõ sự khác biệt cơ bản về mục đích của việc học
trong chế độ cũ và chế độ mới. Trong khi dưới chế độ cũ, đi học là đặc
quyền của một số người và học là để “vinh thân, phì gia” - đem lại lợi
ích cho bản thân và gia đình; thì dưới chế độ mới, đi học là quyền lợi
của toàn dân; học là để phụng sự, để cống hiến cho Tổ quốc, cho dân tộc.
Người
cán bộ cách mạng đi học để làm sao trở thành những “công bộc” của nhân
dân mới đúng nghĩa “làm người”, có nghĩa là gột rửa hết được những tàn
dư do xã hội cũ để lại. Điều này rất quan trọng, bởi nếu vẫn còn chịu
tác động bởi lối suy nghĩ của xã hội cũ thì sẽ ảnh hưởng tiêu cực, nặng
nề đến hiệu quả hoàn thành nhiệm vụ xây dựng xã hội mới. Học để làm việc
có nghĩa là học làm sao để có thể hoàn thành được mọi nhiệm vụ mà Đảng,
cách mạng và nhân dân giao phó. Muốn làm cán bộ thì bắt buộc phải học
tập, không chỉ học về kiến thức, mà quan trọng hơn cả là học về tư cách
người cán bộ cách mạng, để làm sao “phụng sự Đoàn thể,/ phụng sự giai
cấp và nhân dân,/ phụng sự Tổ quốc và nhân loại”(2) một cách tốt nhất.
Việc “tự học” đối với người cán bộ
Một mặt,
để đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ đa dạng và ngày càng nặng nề của sự nghiệp
cách mạng, mỗi người cán bộ phải hiểu rõ mình còn thiếu kiến thức gì
trong khi thực hiện nhiệm vụ, để bổ sung kịp thời; mặt khác, vì
đòi hỏi của thực tế công việc, nên không phải bất cứ lúc nào người cán
bộ có nhu cầu học tập cũng có thể tham gia những lớp học bổ sung kiến
thức do đoàn thể đứng ra tổ chức. Vì vậy, phải “Học ở trường, học ở sách
vở, học lẫn nhau và học nhân dân, không học nhân dân là một thiếu sót
rất lớn”(3). Ngoài cách truyền thống theo học trường lớp bài
bản, chính quy, người cán bộ còn rất nhiều cách học vừa phù hợp với hoàn
cảnh cá nhân và thực tiễn cách mạng phong phú, vừa đáp ứng đòi hỏi và
nhu cầu chính đáng là thu nhận kiến thức cần thiết để thực hiện nhiệm vụ
chính trị ngày càng tốt hơn. Đó chính là, học ở sách vở, học lẫn nhau và học nhân dân. Học ở sách vở
là cách tự học phổ biến nhất, giải quyết được khó khăn về thời gian của
người học, khi không có điều kiện đến trường lớp chính quy. Yêu cầu cao
nhất của người tự học chính là cách thức học sao cho có hiệu quả thiết
thực, cùng với sự đòi hỏi cao về nghị lực. Người cán bộ có thể giúp cho
quá trình tự học của đồng nghiệp, người khác có kết quả, bằng cách “tùy
theo hoàn cảnh mà bày vẽ cho họ về phương hướng công tác, cách thức công
tác, để cho họ phát triển năng lực và sáng kiến của họ, đúng với đường
lối của Đảng”(4). Đây chính là cách học từ công việc hằng ngày, học bằng cách tìm tòi kiến thức xuất phát từ yêu cầu, nhiệm vụ thường xuyên.
Học lẫn nhau
là sự học hỏi, giúp đỡ lẫn nhau giữa các cá nhân có cùng chung mục đích
học tập, có sự liên quan với nhau về kiến thức... Việc học hỏi lẫn nhau
đòi hỏi cao về đức tính khiêm tốn, ham học hỏi của cá nhân người tự
học. Phải có đức tính khiêm tốn thì mới thấy mình còn thiếu điều gì so
với đồng nghiệp, để thực tâm mong học hỏi; đồng thời, cũng phải có sự
ham học hỏi cao mới có thể giúp người học dẹp bỏ được tự ái cá nhân để
thu nhận kiến thức từ đồng nghiệp. Vì thế, khi thành tâm học lẫn nhau,
người cán bộ không những tu dưỡng, rèn luyện có hiệu quả đạo đức cách
mạng là khiêm tốn, ham học hỏi, cầu thị trong công việc, hạn chế nguy cơ
nảy sinh căn bệnh cá nhân chủ nghĩa, mà còn thắt chặt tình đoàn kết
trong tập thể - yếu tố quan trọng tạo thành sức mạnh để hoàn thành các
nhiệm vụ chính trị được giao.
Chủ tịch Hồ Chí Minh đặc biệt nhấn mạnh, với người tự học nói riêng, người cán bộ cách mạng nói chung không học nhân dân là một thiếu sót rất lớn.
Nói về vai trò của quần chúng nhân dân trong cách mạng vô sản, V.I.
Lê-nin đã khẳng định, so với quảng đại quần chúng nhân dân, những người
cộng sản chỉ là giọt nước trong đại dương mênh mông. Chủ tịch Hồ Chí
Minh chỉ ra rằng, nhân dân biết giải quyết nhiều vấn đề một cách giản
đơn, mau chóng, đầy đủ, mà những người tài giỏi, những đoàn thể to lớn,
nghĩ mãi không ra(5). Theo Người, việc tự học của người cán
bộ cách mạng muốn thu được kết quả tốt, không thể tách rời thực tiễn
phong trào hành động cách mạng của quần chúng nhân dân. Chính trong
phong trào đó, nhờ mối liên hệ mật thiết với nhân dân, người cán bộ cách
mạng mới học hỏi được những kiến thức mà chưa có bất cứ nhà trường nào
truyền dạy; học hỏi nhân dân từ những vấn đề thực tế hằng ngày, từ đó
đúc kết thành những tri thức lý luận để lãnh đạo sự nghiệp cách mạng. Vì
thế, muốn tự học có kết quả, người cán bộ phải gắn bó mật thiết với
nhân dân, thực tâm không ngừng học hỏi nhân dân.
Việc “thực học” đối với người cán bộ
Mục đích học tập của người cán bộ, theo tư tưởng Hồ Chí Minh, là để phụng sự Đoàn thể,/ phụng sự giai cấp và nhân dân,/ phụng sự Tổ quốc.
Chủ tịch Hồ Chí Minh lưu ý: “Chúng ta không biết, thì chúng ta phải
học, chúng ta không có quyền giấu dốt. Chúng ta phải học cho kỳ được,
vì... chúng ta phải thực hiện dân chủ mới để chuẩn bị đi đến chủ nghĩa
xã hội, chủ nghĩa cộng sản. Những công việc thiết thực đó, không phải
chỉ chính trị suông mà làm được”(6). Vì thế, theo Người, mỗi
đảng viên phải nắm vững, học thạo một nghề chuyên môn, thuộc mọi ngành,
nghề trong xã hội, để có thể lãnh đạo quần chúng nhân dân thực hiện công
việc trên mọi lĩnh vực, theo sự phân công của Đảng.
Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ rõ: “... học cốt để mà làm. Học mà không làm được, học mấy cũng vô ích. Vì vậy huấn luyện phải thiết thực, sao cho... về địa phương họ có thể thực hành ngay”(7). Muốn thực học có kết quả, Người yêu cầu người học “phải hiểu, phải nhớ, phải thực hành”(8)
những điều mình học. Người cũng phê bình cán bộ mắc “bệnh lý luận
suông”, đó là những người thuộc nhiều sách vở, nói chuyện lúc nào cũng
dẫn sách nọ, quyển kia, nhưng lại kém trong giải quyết công việc thực
tế. Đòi hỏi của người cán bộ cách mạng là không chỉ biết nhiều kiến
thức, mà còn phải biết “ra sức thực hành mới thành người biết lý luận”(9). Kết luận lại, Người yêu cầu cán bộ cách mạng “phải gắng học, đồng thời học thì phải hành”(10).
“Học tập suốt đời” theo tư tưởng Hồ Chí Minh
Học
tập suốt đời theo tư tưởng Hồ Chí Minh chính là thể hiện thái độ trách
nhiệm của tổ chức đảng, cấp ủy các cấp cũng như của mỗi đảng viên đối
với việc học tập. Lúc này, học tập là nhiệm vụ của người cách mạng chứ
không phải là quyền lợi và sở thích cá nhân nữa. Có nghĩa là, học để
phục vụ sự nghiệp cách mạng nên trở thành nhiệm vụ; đồng thời, sự nghiệp
đó là vô cùng lâu dài, gian khổ, nên học tập cũng là trách nhiệm phải
thực hiện suốt cuộc đời của người cách mạng với thái độ nghiêm túc và ý
thức tự giác cao.
Đối
với một số hạn chế, yếu kém trong thực hiện trách nhiệm này, về phía
tập thể, Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ rõ: “Thế mà cứ kêu là thiếu cán bộ. Vì
sao? Vì việc huấn luyện còn hữu danh vô thực, làm chỉ cốt nhiều mà không thiết thực chu đáo”(11).
Qua đó, có thể thấy, Người nghiêm khắc phê bình việc học tập, huấn
luyện không thiết thực. Điều này không chỉ gây ra sự lãng phí cho tập
thể về thời gian, mà xa hơn còn gây ra hậu quả xấu cho phong trào cách
mạng, do việc đào tạo không chất lượng, nên người cán bộ không được
trang bị đầy đủ kiến thức cần thiết, vì thế, khi thực hiện nhiệm vụ sẽ
không đạt yêu cầu đề ra.
Chủ
tịch Hồ Chí Minh chỉ ra một biểu hiện không tốt trong đội ngũ cán bộ,
đó là “bệnh khinh lý luận”. Biểu hiện của căn bệnh này chính là đề cao
kinh nghiệm bản thân, không chịu học hỏi, mà quên rằng “kinh nghiệm của
họ tuy tốt, nhưng chẳng qua là từng bộ phận mà thôi, chỉ thiên về một
mặt mà thôi”; vì thế, Người chỉ rõ, họ “cần phải nghiên cứu thêm lý
luận, mới thành người cán bộ hoàn toàn”(12). Người mắc phải
“bệnh khinh lý luận” là những người ngại học hỏi, tìm tòi cái mới, bằng
lòng với cái đang có, vì thế, không bao giờ thực hiện được yêu cầu phải
học tập suốt đời mà Chủ tịch Hồ Chí Minh đề ra. Do đó, để thực hiện được
yêu cầu học tập suốt đời, cần phải chống lại “bệnh khinh lý luận”. Điều
này không có gì mâu thuẫn với việc tự học, thực học theo tư tưởng Hồ
Chí Minh, bởi khi tập thể yêu cầu, khi nhiệm vụ đòi hỏi, người cán bộ
cần tham gia học tập nghiêm túc ở trường lớp để thu nhận kiến thức một
cách hệ thống, bài bản. Ở đó, người cán bộ được trang bị kiến thức lý
luận chuyên sâu, cũng là để khắc phục căn bệnh coi khinh lý luận; đồng
thời, quá trình này là sự phối hợp nhuần nhuyễn giữa việc tự học với
việc học tập suốt đời thông qua hình thức đào tạo tập trung.
Chủ
tịch Hồ Chí Minh phát hiện ra “bệnh kém tổng kết” phong trào cách mạng,
đó là có những nơi, có những phong trào đạt thành tích rất tốt, nhưng
vì “chúng ta không biết nghiên cứu đến nơi đến chốn, vì sao mà có thành
tích khá?... để mà học kinh nghiệm, để mà đặt ra khuôn phép cho công
việc khác. Thành thử những cái tốt, cái hay đều không phát triển được...
cán bộ không học được kinh nghiệm gì, mà cũng không tiến bộ được mấy”(13).
Đối với những sai lầm, thất bại, cũng tồn tại tình trạng như vậy, vì
thế, Người chỉ rõ: “Từ nay, công việc gì bất kỳ thành công hoặc thất
bại, chúng ta cần phải nghiên cứu đến cội rễ,... rồi kết luận. Kết luận
đó sẽ là cái thìa khóa phát triển công việc và để giúp cho cán bộ tiến tới”(14).
Thực hiện tốt những chỉ dẫn nói trên của Người chính là làm cho quá
trình tự học tập suốt đời một cách thiết thực, có hiệu quả. Sự nghiệp
cách mạng là quá trình lâu dài, luôn xuất hiện những đòi hỏi và yêu cầu
mới, ngày càng cao hơn, khó khăn hơn, vì vậy, người cán bộ cách mạng
phải không ngừng học hỏi, học tập suốt đời để nâng cao trình độ bản
thân.
Để
việc tự học, thực học, học tập suốt đời hiệu quả theo tư tưởng Hồ Chí
Minh, đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp cách mạng trong giai đoạn mới
Đại
hội XIII của Đảng chỉ rõ một số hạn chế cần nhanh chóng khắc phục để
xây dựng, chỉnh đốn Đảng trong sạch, vững mạnh, xây dựng đội ngũ cán bộ
đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp cách mạng trong giai đoạn mới. Những hạn
chế đó là: Một số tổ chức cơ sở đảng,
một bộ phận cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức chưa gương mẫu, chưa
thực sự tôn trọng ý kiến, kiến nghị của nhân dân... Việc đánh giá, xếp
loại tổ chức đảng và đảng viên ở một số nơi còn chưa thực chất. Một bộ
phận cán bộ, đảng viên phai nhạt lý tưởng, giảm sút ý chí, ngại khó,
ngại khổ...(15). Thực trạng trên có nhiều nguyên nhân, nhưng
một nguyên nhân là do những hạn chế từ quá trình tự học, thực học và học
tập suốt đời của đội ngũ cán bộ, đảng viên. Nguyên nhân khiến cho việc
tự học, thực học và học tập suốt đời của đội ngũ cán bộ, đảng viên chưa
đạt kết quả như mong muốn là do việc đào tạo, bồi dưỡng còn chạy theo số
lượng mà chưa thực sự chú trọng tới chất lượng; còn tình trạng học theo
phong trào, sính bằng cấp mà chưa thực sự căn cứ vào đòi hỏi thực tiễn;
còn tồn tại tâm lý ngại khó, ngại khổ trong học tập, không chịu đào sâu
suy nghĩ để vươn lên chinh phục những đỉnh cao trong khoa học...
Thực
tiễn cách mạng đang đặt ra những yêu cầu ngày càng cao đối với đội ngũ
cán bộ, đảng viên trong giai đoạn mới của cách mạng nước ta, đòi hỏi cần
vận dụng sáng tạo những chỉ dẫn của Chủ tịch Hồ Chí Minh về tự học,
thực học và học tập suốt đời để xây dựng được đội ngũ cán bộ, đảng viên
đủ phẩm chất, năng lực, uy tín ngang tầm nhiệm vụ.
Thứ nhất, thực hiện nghiêm việc tuyển dụng, đào tạo, bồi dưỡng và sử dụng đội ngũ cán bộ của hệ thống chính trị.
Thời gian qua, công tác này còn một số hạn chế, như Nghị quyết số
26-NQ/TW, ngày 19-5-2018, của Hội nghị Trung ương 7 khóa XII, “Về tập
trung xây dựng đội ngũ cán bộ các cấp, nhất là cấp chiến lược, đủ phẩm
chất, năng lực và uy tín, ngang tầm nhiệm vụ” chỉ rõ: “Công tác tuyển
dụng, thi nâng ngạch công chức, viên chức còn nhiều hạn chế, chất lượng
chưa cao, chưa đồng đều, có nơi còn xảy ra sai phạm, tiêu cực”(16).
Vì vậy, cần khắc phục những hạn chế còn tồn tại để tuyển dụng được
những nhân sự xứng đáng. Muốn vậy, cần tuyển chọn những nhân sự có
chuyên ngành đào tạo phù hợp với nhiệm vụ chính trị của cơ quan, đơn vị;
thường xuyên đào tạo, bồi dưỡng qua thực tế công việc, để họ ngày càng
trưởng thành. Kiên quyết đấu tranh, chống mọi biểu hiện tiêu cực trong
công tác tuyển dụng, nhất là chỉ tuyển chọn người thân, người quen,
“nhóm lợi ích” vào cơ quan, đơn vị dù không đáp ứng được yêu cầu công
việc. Thực hiện tuyển dụng công khai, minh bạch; làm tốt việc xây dựng
hệ thống vị trí việc làm trong cơ quan, đơn vị; xây dựng những tiêu chí
cần thiết, phù hợp cho mỗi vị trí việc làm và thực hiện nghiêm túc những
quy định có liên quan.
Thứ hai, đổi mới công tác đánh giá chất lượng và hiệu quả thực hiện nhiệm vụ chính trị của đội ngũ cán bộ trong hệ thống chính trị.
Đánh giá cán bộ qua chất lượng và hiệu quả thực hiện nhiệm vụ chính trị
một cách nghiêm túc, khách quan; qua đó, thúc đẩy cán bộ luôn phải liên
tục tìm tòi những cách thức, biện pháp hữu hiệu thường xuyên, để nâng
cao chất lượng công việc, hoàn thành nhiệm vụ được giao; phải liên tục
học hỏi, tích lũy kiến thức, kỹ năng không ngừng qua thực tế công tác và
thực hiện nhiệm vụ ở cơ quan, đơn vị. Đây chính là cơ sở để người cán
bộ thực hiện tư tưởng Hồ Chí Minh về học tập suốt đời. Thời gian qua,
công tác này còn có một số hạn chế, đã được Nghị quyết số 26-NQ/TW, chỉ
rõ: “Đánh giá cán bộ vẫn là khâu yếu, chưa phản ánh đúng thực chất, chưa
gắn với kết quả, sản phẩm cụ thể, không ít trường hợp còn cảm tính, nể
nang, dễ dãi hoặc định kiến”(17).
Đại
hội XIII của Đảng nêu định hướng chỉ đạo với công tác đánh giá cán bộ:
“Nghiên cứu, hoàn thiện cơ chế lựa chọn, đánh giá, sàng lọc để nâng cao
chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức”(18). Cần
thực hiện tốt việc tổ chức công việc trong cơ quan, đơn vị theo vị trí
việc làm để có căn cứ đánh giá chính xác chất lượng công việc; cụ thể
hóa nguyên tắc một việc do một người chịu trách nhiệm chính, đồng thời
một việc có thể giao cho nhiều người thực hiện. Điều này giúp nâng cao
khả năng làm việc nhóm, thúc đẩy các thành viên trong tập thể giúp nhau
hoàn thành nhiệm vụ chung; đồng thời, việc đánh giá chất lượng hoàn
thành công việc của từng cá nhân cũng sát hợp và đúng hơn. Cần thực hiện
nghiêm nội dung mà Kết luận số 21-KL/TW, ngày 25-10-2021, của Hội nghị
Trung ương 4 khóa XIII đã chỉ rõ: “... tiếp nhận và kịp thời chỉ đạo
giải quyết các vấn đề nhân dân phản ánh, khiếu kiện, nhất là những vấn
đề liên quan đến đạo đức, lối sống của cán bộ, đảng viên. Đồng thời,
phát hiện, biểu dương, khen thưởng, nhân rộng những điển hình nêu gương
sáng, có sức lan toả lớn trong Đảng và xã hội”(19).
Thứ ba, thắt chặt hơn mối quan hệ giữa cán bộ, đảng viên với quần chúng nhân dân, với cơ sở. Đây
là một phương sách hữu hiệu để thực hiện tốt việc đào tạo, bồi dưỡng
đội ngũ cán bộ, đảng viên. Bởi lẽ, những ý kiến xuất phát từ nhu cầu và
nguyện vọng hợp pháp, chính đáng của quần chúng nhân dân chính là những
gợi ý tốt cho việc đề ra những giải pháp trong thực hiện nhiệm vụ chính
trị của mỗi người cán bộ, đảng viên, mà không sách vở, giáo trình nào có
thể đề cập hết được. Kinh nghiệm phong phú của quần chúng nhân dân
chính là kho tàng tri thức vô tận và vô giá, cung cấp cho đội ngũ cán bộ
những cơ sở để có thể đề ra được những quyết sách đúng đắn trong công
việc. Điều đó góp phần khắc phục một trong những hạn chế trong xây dựng
đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức là do: “... thiếu cơ chế phù hợp để
cán bộ, đảng viên gắn bó mật thiết với nhân dân; chưa phát huy có hiệu
quả vai trò, trách nhiệm của các cơ quan truyền thông, báo chí”(20).
Đại
hội XIII của Đảng chỉ rõ: “Tiếp tục xây dựng đội ngũ cán bộ thật sự
“trọng dân, gần dân, tin dân, hiểu dân, học dân, dựa vào dân và có trách
nhiệm với dân””(21). Đây cũng chính là cơ sở để đội ngũ cán
bộ, đảng viên dựa vào nhân dân để thực hiện có hiệu quả việc tự học,
thực học và học tập suốt đời theo tư tưởng Hồ Chí Minh. Theo đó, cần “đề
cao trách nhiệm tự học, tự nghiên cứu của cá nhân; xây dựng chế độ học
tập, bồi dưỡng lý luận chính trị định kỳ, thường xuyên đối với cán bộ
lãnh đạo, quản lý. Nâng cao chất lượng sinh hoạt của tổ chức đảng, các
tổ chức chính trị - xã hội, nhất là cấp uỷ, thường vụ cấp uỷ, đề cao và
thực hiện nghiêm tự phê bình và phê bình từ Trung ương đến chi bộ, khắc
phục tình trạng nể nang, né tránh, ngại va chạm, “dĩ hòa vi quý””(22).
Đội ngũ cán bộ, đảng viên “quan tâm chăm lo đời sống của nhân dân. Thực
hiện nghiêm... công tác tiếp dân, đối thoại với nhân dân, giải quyết
những kiến nghị hợp pháp, chính đáng của nhân dân và xử lý kịp thời, dứt
điểm các vấn đề bức xúc liên quan đến đời sống nhân dân”(23).
Những
chỉ dẫn của Chủ tịch Hồ Chí Minh về tự học, thực học, học tập suốt đời
còn vẹn nguyên giá trị thời sự, luôn là kim chỉ nam để mỗi người cán bộ,
đảng viên không ngừng tự học, tự rèn nhằm nâng cao đạo đức cách mạng,
năng lực, trình độ chuyên môn, xây dựng đội ngũ vững mạnh./.
NGUYỄN HOÀNG VIỆT